may tinh bang bipad 9x|diet moi|dich vu diet moi|dong ho|may tinh bang bipad|sua chua dien nuoc tai ha noi|sua chua dien lanh

Phụ tùng xe máy | Phụ tùng xe tay ga | Phụ tùng xe motor - xe số |

Sửa chữa xe máy|sơn xe máy

Content on this page requires a newer version of Adobe Flash Player.

Get Adobe Flash player

Phụ tùng xe máy | Phụ tùng xe tay ga | Phụ tùng xe motor - xe số |
Các giải pháp chống mất cắp xe máy sử dụng điện PDF Print E-mail

Khi bạn mua một chiếc xe mới hoặc một chiếc xe mắc tiền nào đó thì chúng ta thường rất hay lo ngại nó sẽ bị mất đi, bị trộm hay thậm chí là cướp. Để khắc phục vấn đề này thì các bạn có rất nhiều cách, có những giải pháp như sử dụng chìa code như Piaggio xài, lắp khóa chống đoản hoặc một số phương pháp khác sử dụng điện như GPS hay dùng remote, công tắc phụ…. Bài viết này sẽ giúp các bạn có những cái nhìn cơ bản nhất về những giải pháp chống mất cắp xe máy dùng điện, những cách cơ khí như thay ổ khóa hay khóa chống đoản sẽ có trong một bài viết khác.

 

Trước tiên, bạn cần hiểu giải pháp điện là gì? Nó không phải như một số bạn hình dung là giựt điện kẻ trộm khi bẻ khóa! Nói một cách đơn giản thì khi dùng phương thức chống trộm này, bạn sẽ can thiệp vào hệ thống cung cấp điện của xe (bộ đề, ắc quy…) và làm cho xe không thể khởi động được. Có khá nhiều phương thức khác nhau nhưng chúng ta sẽ nói đến 4 cái chính: công tắc phụ, điều khiển từ xa (remote), RFID và GPS.

 

Các giải pháp chống mất cắp xe máy sử dụng điện


Công tắc phụ:

 

Đây là phương pháp rẻ nhất (khoảng 1-200 ngàn) và cũng được khá nhiều người sử dụng. Khi dùng cách thức này thì người gắn sẽ bổ sung một mạch vào hệ thống điện của xe, chỉ khi nhấn vào công tắc này thì máy xe mới có thể đề được. Do không phức tạp và gần như không sử dụng nguồn không ảnh hướng đến ắc quy của chúng ta. Ưu điểm của công tắc phụ là bạn có thể đặt nó ở bất cứ nơi đâu, ví dụ như hốc để chai nước hay thậm chí là cốp xe. Trừ khi kẻ trộm là người quen, sẽ rất khó để chúng biết công tắc nằm ở đâu để có thể đề máy.

 

Tháo xe gắn công tắc phụ (anh này gắn vào cốp nên phải tháo nhiều vậy)

 

 

Một số chỗ gắn công tắc phụ có bổ sung thêm còi báo hiệu, khi một người cố tình mở khóa mà không nhấn công tắc phụ thì xe sẽ tự hú lên cảnh báo cho chủ nhân.

 

Remote:

 

Công tắc phụ là phương pháp rẻ nhất nhưng remote có lẽ là cái mà người ta dùng nhiều nhất vì những ưu điểm của nó: cho phép tắt/mở máy từ xa (khoảng vài đến vài chục mét tùy thiết bị), có thể ngắt máy khi xe đang chạy (tùy thiết bị), hỗ trợ tìm xe từ xa (hú còi hoặc nháy đèn khi bấm, tùy thiết bị). Một số remote nâng cao còn có chức năng cảnh báo (ví dụ rung remote hay hiển thi màn hình) khi xe bị can thiệp bẻ khóa trái phép. Nếu bạn dùng các remote xịn thì nó cũng có thể cảnh báo khi chúng ta quên bấm nút khóa hoặc tự khóa sau một khoảng thời gian nhất định nào đó….

 

 

Chi phí để gắn remote vào khoảng 300-1 triệu đồng tùy loại… Bạn nên lưu ý chọn các thiết bị có khả năng chống nước và tiết kiệm điện nhất có thể. Một số remote dỏm dùng các mạch chất lượng kém nên nó sẽ gây tốn bình ắc quy không cần thiết, nếu để lâu không đi thì sẽ không đề được nữa do kiệt bình (khá ít gặp vì remote không tốn nhiều năng lượng).

 

 

Một loại sản phẩm của Trung Quốc

 

Cũng như công tắc phụ và các giải pháp can thiệp vào điện khác, remote cũng đi kèm một loa để hú khi xe bị can thiệp. Các chức năng của remote cao cấp cũng khá phong phú so với loại thường, nó có những mức độ cảnh báo khác nhau tùy vào số lần can thiệp của kẻ trộm, ví dụ bẻ khóa một lần sẽ hú còi, bẻ khóa lần 2 sẽ phát âm thanh bằng giọng nói hay thậm chí là tắt máy xe…

 

 

Remote và còi hú

 

Có một giải pháp nâng cao của Remote là kết hợp thêm với SIM điện thoại. Khi lắp đặt, bạn sẽ gắn một thiết bị có SIM điện thoại vào trong xe, mỗi khi muốn đề máy ta có thể nhắn tin từ điện thoại của mình tới số điện thoại trong xe hoặc nhắn tin để tắt máy. Mỗi khi xe bị bẻ khóa thì SIM này cũng sẽ gọi điện tới số của chúng ta và kết hợp với microphone gắn trong xe để người dùng nghe được âm thanh từ môi trường xung quanh…

 

RFID:

 

RFID cũng là một giải pháp chống trộm khá hay, có cả giải pháp từ một vài nhà sản xuất Việt Nam. Phương pháp này cũng tương tự công tắc phụ nhưng nó an toàn hơn và cũng phiền phức hơn, xét về một mặt nào đó. Khi trang bị khóa RFID, bạn sẽ được cung cấp một thiết bị nhỏ gắn vào chìa khóa xe, khi ta chạm thiết bị đó và khóa RFID thì lúc này mới đề xe được. Thiết bị RFID có thể giấu ở bất cứ vị trí nào trong xe như công tắc phụ, kể cả khi trộm biết vị trí chip RFID nhưng không có thiết bị phát gắn vào chìa khóa của chúng ta thì cũng không mở khóa được. Phương thức RFID khá tiết kiệm pin, bạn có thể để xe vài tháng không xài nhưng vẫn không làm kiệt ắc quy.

 

 

Một vài thiết bị RFID có phạm vi thu phát sóng khá nhỏ, khoảng vài cm trong khi một số thiết bị lại vào khoảng 10m. Lưu ý rằng khoảng cách lớn hơn không có nghĩa là xịn hơn. Các thiết bị khoảng cách lớn có thể bị nhiễu sóng khi bạn dừng xe ở những khu vực trạm phát tín hiệu mạnh (cột phát sóng di động, đài truyền hình…). Với các thiết bị có phạm vi thu phát sóng nhỏ, bạn phải chạm nó vào xe thì ta mới có thể đề xe, thỉnh thoảng gặp trường hợp không nhạy thì bạn sẽ phải mất khá nhiều thời gian thử mới có thể đề máy.

 

 

Chi phí cho RFID từ khoảng 600-1,6 triệu đồng tùy thiết bị.

 

Còn những thiết bị có tầm phát sóng dài thì sao? Lấy ví dụ tầm phát sóng 10m thì khi bạn đeo khóa và đứng cách xe 10m, xe sẽ tự khóa máy kể cả khi nó đang nổ máy (chống cướp) và tự đề máy khi chúng ta bước vào phạm vi 10m trở lại. Dù vậy, do giới hạn về năng lượng (không thể quét liện tục, phải theo chu kỳ) mà độ trễ của hành động tắt/mở máy khá lâu, bạn vẫn có thể mất xe như thường!

 

GPS:

 

GPS là giải pháp để chúng ta bắt trộm hơn là phòng trộm. Nếu bạn hay coi phim hành động thì sẽ thấy người ta hay gắn mấy cục GPS bằng nút áo vào giày hay một nơi nào đó trong xe để theo dõi (tracking) đối tượng. Thành thật mà nói thì những phước phim đó mang tính giả tưởng rất cao. Thứ nhất, với những thiết bị nhỏ như vậy thì khả năng bắt sóng là cực yếu, pin của nó cũng không đủ để tồn tại trong thời gian dài và dữ liệu thu được cũng không có cách nào truyền tải về máy chủ theo dõi cả!

 

 

Khe cắm SIM

 

Nếu bạn tin vào những thước phim đó thì đừng bị shock khi thấy cục bắt sóng GPS cho xe máy/xe ô tô ngoài đời. Tùy vào loại thiết bị mà kích cỡ của chúng sẽ thay đổi nhưng thông thường thiết bị nhỏ nhất cũng to bằng nửa nắm tay người lớn.

 

Lý do cho cho kích cỡ này là một thiết bị GPS phải có SIM điện thoại có đăng ký data bên trong để truyền dữ liệu liên tục về máy chủ theo dõi (vì máy chủ này mà mỗi năm bạn phải đóng 500-1 triệu tiền phí máy chủ tùy nhà sản xuất) đồng thời giúp thiết bị bắt sóng GPS nhanh hơn A-GPS (Assisted GPS), phải có chip GPS và ăng ten tăng khả năng bắt sóng (một số dùng ăng ten rời, một số tích hợp) cùng chip xử lý và các chipset liên quan… Hầu hết các thiết bị GPS đều có những cổng giao tiếp với máy tính (USB hoặc serial…) để nâng cấp phần mềm, bổ sung thêm tính năng sau này.

 

 

Vì lý do phức tạp như vậy, các thiết bị GPS khá mắc, đặc biệt là những máy có GPS thực bắt sóng vệ tinh, khoảng 2,5 triệu trở lên. Một số thiết bị rẻ hơn không dùng GPS thực mà nó sử dụng hệ thống định vị thông qua các trạm phát sóng di động nhưng tất nhiên sẽ không chính xác bằng việc sử dụng GPS, độ sai số lớn hơn khá nhiều.

 

Tốn nhiều tiền như vậy thì bạn sẽ được những ưu điểm gì so với các giải pháp khác? Đầu tiên, bạn có thể điều khiển nó từ chiếc điện thoại của chính chúng ta. Mỗi khi cần làm gì, bạn chỉ cần nhắn tin đến số điện thoại trong GPS để ra lệnh. Một số lệnh tiêu biểu có thể kể đến như tắt máy xe hoàn toàn, chỉnh thời gian gửi tín hiệu về máy chủ (thời gian càng ngắn thì càng tốn pin nhưng dữ liệu về tốc độ và quãng đường bạn đi qua càng chính xác hơn)…. Ưu điểm của GPS là bạn luôn biết chính xác xe ở chỗ nào, kẻ trộm chỉ có chạy đằng trời. Trừ khi tháo cục GPS (nằm sâu trong xe) thì kể cả khi xe đang chạy bạn vẫn có thể yêu cầu nó tắt máy gần như ngay lập tức.

 

Do định vì bằng GPS có độ chính xác tính bằng mét mà các thiết bị GPS cũng có một tính năng khá hay: tự động gọi điện cho bạn khi xe bị di chuyển hay rung động sau một khoảng thời gian nào đó. Ví dụ nếu bạn chỉnh thời gian cảnh báo là 1 tiếng thì sau một tiếng đó, mỗi khi xe bị dắt đi (không cần đề máy), xe cũng sẽ gọi điện cảnh báo và dùng micro thu lại âm thanh môi trường xung quanh cho bạn.

 

Tùy vào thiết bị bạn sử dụng mà sẽ có những loại bản đồ khác nhau, một số dùng Vietmap, một số dùng Google Maps… Thật đáng tiếc là các thiết bị GPS ở Việt Nam vẫn chưa có ứng dụng cho điện thoại mà dùng trình duyệt (hỗ trợ mobile, bị giới hạn tính năng so với tin nhắn) và tin nhắn để điều khiển. Thực chất thì việc viết một ứng dụng web theo kiểu responsive design không quá khó, rất tiếc là các nhà sản xuất chưa chịu làm điều này.

 

 

Thiết bị này dùng bản đồ của Vietmap và dùng ăng ten ngoài

 

RWD hay Responsive Web Design là phương thức thiết kế web cho phép các trang web (đặc biệt những trang web hiển thị nhiều nội dung) có thể tự điều chỉnh bố cục bên trong để phù hợp với kích thước màn hình. Một trang web có chiều rộng cố định đã không còn thịnh hành và RWD được coi là xu thế thiết kế trong năm 2013.

 

Có một nhược điểm của GPS là nó khá tốn pin, một vài thiết bị đời cũ có thể rút kiệt ắc quy của bạn chỉ sau 2-3 ngày không chạy xe. Các thiết bị mới hơn thì đã tiết kiệm năng lượng hơn rất nhiều, với cường độ gửi tín hiệu về máy chủ sau mỗi 1 phút thì nó có thể sống được gần một tuần. Nếu bạn chỉnh 5 phút hay 15 phút thì thời gian đó còn lâu hơn nữa.

 

Giải pháp tổng hợp:

 

Như bạn đã thấy ở trên, không một giải pháp nào là hoàn hảo. Nếu muốn đầy đủ tất cả các tính năng và an toàn nhất thì bạn có thể kết hợp dùng RFID/công tắc phụ + Remote + GPS nhưng nó khá là phiền. Ví dụ như nếu bạn gắn tổ hợp RFID + Remote + GPS thì trước khi đề máy ta phải chạm khóa RFID vào xe, nhấn nút mở khóa trên remote và nhắn tín đến GPS để kích hoạt động cơ máy (nếu đã tắt trước đó, không thì không cần). Trừ khi bạn đi Kawasaki Z1000 (thực chất thì cũng ít ai dám trộm) hay Ducati 1100 thì cũng không cần quá cẩn thận như vậy.

 

Lưu ý: Hầu hết các giải pháp trên đều có thể thực hiện mà không phải cắt dây điện trong xe, bạn nên kiểm tra kỹ nơi làm trước khi đưa ra quyết định cuối cùng. Một số cửa hàng cắt dây còn một số lại không. Nếu cửa hàng nào cắt dây, hãy bảo đảm nó không ảnh hưởng gì đến khả năng hoạt động của xe, đặc biệt là phun xăng điện tử.

 

Nguồn tin: NguyenTanDung.org

Tạp chí xe Máy

Quảng cáo được tài trợ

Trung tâm sơn, sửa xe Sài Gòn

Đ/c: 318 Hoàng Văn Thụ, P.4, Q.Tân Bình, Tp. Hồ Chí Minh

Điện thoại: 0983 801 891 - 0903 801 891

Email:  This e-mail address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it This e-mail address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it

Chúng tôi chuyên thực hiện: sơn, sửa, tân trang, thay mới phụ tùng các loại xe số, tay ga Honda, Yamaha, Suzuki, SYM,...

 
Tìm hiểu he thống truyền động trên xe gắn máy PDF Print E-mail

Chào các bạn!

 

Có nhiều bạn liên hệ và yêu cầu Sửa Xe Sài Gòn viết 01 bài trình bày về "Hệ thống truyền động trên xe máy". Thiên Nhẫn không dám múa rìu qua mắt thợ vì Thiên Nhẫn biết có rất nhiều bạn giỏi hơn Thiên Nhẫn về lĩnh vực này. Tuy nhiên, để đáp lại yêu cầu của các bạn. Với vốn kiến thức và hiểu biết ít ỏi có được. Thiên Nhẫn xin mạn phép "múa sơ sơ" được bao nhiêu hay bấy nhiêu nhằm giúp các bạn nắm được một ít kiến thức về lĩnh vực này. Các bạn nào có cao kiến xin đừng ngại đóng góp để vốn kiến thức của chúng ta ngày càng rộng hơn nhé.

 

1. Hệ thống truyền động xe số:

 

Như đã biết. Xe số dùng bộ ba bánh răng trước (ta hay gọi là nhông); dây xích tải (ta gọi là sên) và bánh răng sau (ta gọi là dĩa). Hệ thống sên nhông dĩa có nguyên tắc hoạt động và cấu tạo khá đơn giản. Nhông trước làm nhiệm vụ truyền lực kéo (lực xoay) của cốt máy ra sên, sên làm nhiệm vụ tải lực kéo này ra dĩa sau và dĩa truyền lực kéo này vào bánh xe làm bánh xe quay. Độ lớn của lực và tốc độ quay tại nguồn (nhông) được quyết định bởi bộ li hợp (hộp số) của xe. Thông thường các xe phổ thông có dung tích xy lanh (hay còn gọi là phân khối) từ dưới 50 đến 110cc có 5 số cơ bản( N 1 2 3 4), các xe có phân khối lớn hơn sẽ có nhiều cấp số hơn (N 1 2 3 4 5 và đôi khi 6). Cấp số càng nhỏ thì độ lớn lực càng lớn, tốc độ quay càng chậm và ngược lại. Ví dụ số 1 sẽ tải mạnh hơn số 2 nhưng tốc độ sẽ chậm hơn. Phần hộp số này hầu như ta không can thiệp được (đối với xe zin). Do đó ta sẽ chuyển hướng quan tâm sang nhông sên dĩa là chính. Nhông sên dĩa thường có cấp độ tỷ số răng nhất định thỏa mãn yêu cầu nào đó của người dùng. Một số tỷ số phổ biến ví dụ là 15 x 39; 14 x 36; v.v.... Với tỷ số 15 x 39 ta sẽ có nhông có tổng cộng 15 răng và dĩa có tổng cộng 39 răng. Tỷ số này quyết định độ lớn lực truyền/tốc độ quay giữa nhông và dĩa. Tỷ số này được tính toán theo công suất máy cụ thể và được quyết định mặc định ban đầu bởi nhà sản xuất xe máy. Tuy nhiên, tỷ số này ta có thể can thiệp được để cải thiện độ lớn lực - tốc độ xe theo ý muốn chúng ta.

 

Tỷ số truyền = số răng dĩa sau/số răng nhông trước

 

Bảng tỷ số truyền nhông sên dĩa: (Xe zin thông thường có tỷ số truyền là 2.6)

 

Màu tím là các tỷ số truyền cho vận tốc cao hơn nhưng gia tốc chậm hơn

 

Màu đỏ là tỷ số truyền cho vận tốc chậm hơn nhưng gia tốc cao hơn

 

Tỷ số truyền càng nhỏ vận tốc càng cao - gia tốc càng chậm và ngược lại

 

15 34 = 2.26

15 35 = 2.33

15 36 = 2.4

16 39 = 2.44

13 32 = 2.46

15 37 = 2.47

14 35 = 2.5

16 40 = 2.5

15 38 = 2.53

13 33 = 2.54

16 41 = 2.56

14 36 = 2.57

15 39 = 2.6 Stock gear ratio

13 34 = 2.62

16 42 = 2.63

14 37 = 2.64

15 40 = 2.67

16 43 = 2.69

13 35 = 2.69

14 38 = 2.71

15 41 = 2.73

16 44 = 2.75

13 36 = 2.77

14 39 = 2.79

15 42 = 2.8

16 45 = 2.81

13 37 = 2.85

14 40 = 2.86

 

Chú ý:

 

Khi thay nhông dĩa thì ko được thay đổi >8%

 

Nhông trước:

Thêm răng nhông truớc = xe vọt hơn ở tốc độ cao.

Bớt răng nhông truớc = xe chạy bốc hơn trong lúc đề pa.

 

Dĩa sau:

Bớt răng dĩa sau = xe vọt hơn ở tốc độ cao.

Thêm răng dĩa sau = xe chạy bốc hơn trong lúc đề pa.

 

Thêm 01 răng nhông truớc tương đương (gần đúng) bớt đi 2 răng dĩa sau.

 

Công thức:

 

Tỉ lệ = số răng dĩa sau / số răng nhông trước

 

ví dụ: 39/15 -> 2.6, nghĩa là nhông trước quay 2.6 vòng thì dĩa sau quay 1 vòng.

 

Tính % thay đổi tương ứng với xe hiện tại:

(( (số răng dĩa mới /số răng nhông mới) / (số răng dĩa củ /số răng nhông củ) ) - 1) * 100 = % thay đổi.

 

 

Ví dụ:

Nhông 15 xuống nhông 14, dĩa giữ nguyên 39: ((39/14)/(39/15))-1)*100 = 7.11%

 

Ưu điểm của lên nhông: Tiết kiệm xăng ở tốc độ cao

Nhược điểm của lên nhông: Xe sẽ chạy yếu đi trong lúc đề pa.

 

Nếu không có mục đích nhất định thì lời khuyên là: Ko nên xuống hay lên nhông vì sẽ rất có hại cho máy. Và hãy nhớ là tăng đề sẽ mất hậu và ngược lại.

 

 

Thông tin về sên xe:

 

 

Trên sên xe ta thường thấy cái dòng chử:

 

Dòng sên mã số từ 415 - 428 dùng cho xe từ 100 CC - 135 CC .Dòng sên mã số từ 428 - 530 dùng cho xe từ 135 CC trở lên (xe moto) .

4XX : con số 4 có nghĩa là mắc sên dài 12,7mm;

số XX có 15 - 20 - 28 tương ứng với cách chọn nhông dày phù hợp 4,77mm - 6,35 mm - 7,75mm của sên .

 

5XX : con số 5 có nghĩa là mắc sên dài 15,875 mm;

số XX có 20 - 25 - 30 tương ứng với cách chọn nhông dày phù hợp 6,35mm - 7,95 mm - 9,53mm của sên .

 

XX : là bề dày nhông cần chọn cho phù hợp với từng loại sên có số 15 - 20 - 25 - 28 -30 tương ứng 4,77mm - 6,63mm - 7,95mm - 7,75mm - 9,53mm.

 

Một đoạn phim ngắn minh họa truyền động nhông sên dĩa:

 

 

Việc độ nhông sên dĩa thông thường ta chỉ độ nhông và dĩa (ví dụ thay bằng loại chất liệu khác bền hoặc nhẹ hơn, lên/xuống số răng, v.v...). Ta ít khi độ sên vì hiệu năng mang lại của việc độ sên là không lớn lắm và khó nhận thấy được bằng cảm quan. Thường ta chỉ quan tâm đến độ bền của sên mà thôi.

 

Ngày nay, vì một số lí do (cho đẹp, êm xe, v.v...). Có một số hãng sử dụng dây curoa thay cho dây sên (thường thấy ở các xe big bike). Tức hệ thống nhông - dây - dĩa. Một số xe phổ thông các bạn cũng độ hệ thống này.

 

Hình tham khảo:

 

 


Ưu điểm:

 

Êm do dùng dây caosu nên không nghe tiếng lào xào của kim loại (của sên khi ma sát với nhông và dĩa). Quá trình tăng tốc cũng không quá gắt và không bị giật vì bản thân từng mắt dây là một mắt đệm.

 

Nhược điểm:

 

Tuổi thọ thấp hơn so với dây sên. Chịu nước, cát và các điều kiện khắc nghiệt khác kém hơn sên. Tăng tốc ko nhanh và hỗn được bằng sên do caosu của dây giảm chấn làm giảm lực kéo khi tăng tốc đột ngột.

 

Kết luận:

 

Hệ thống này nếu không được trang bị tiêu chuẩn trên xe (thường là big bike) thì chúng ta không nên độ theo vì xét cho cùng sẽ mất nhiều hơn được như mất lực xe, mau hư, v.v... trong khi cái được duy nhất là xe êm.

 

2. Hệ thống truyền động xe tay ga:

 

Hệ thống truyền động ở xe tay ga hoàn toàn khác xe số. Nếu ở xe số, lực máy truyền từ trục máy ra là biến thiên và tùy thuộc vào cấp số của hộp số thì ở xe tay ga, lực máy truyền ra là cố định. Phần biến thiên của hộp số được mang ra ngoài và thay thế bằng bộ nồi xe. Chính vì vậy mà cấu tạo cũng như nguyên tắc hoạt động của nồi xe phức tạp hơn rất nhiều nếu so với nhông - sên - dĩa. Và vì nằm bên ngoài nên ta hoàn toàn có thể can thiệp được để cải thiện theo ý thích cá nhân mình.

 

Bộ nồi xe tay ga có tên là CVT (Continuously variable transmission) tạm dịch sát nghĩa là "Hệ thống truyền động biến thiên liên tục" hay ta thường gọi là "Hệ thống truyền động vô cấp". Hệ thống này cũng gồm 3 phần là nồi trước (nhông - nếu đối chiếu ngang qua), dây curoa (sên) và nồi sau (dĩa). Trong 3 phần này, dây curoa đóng vai trò truyền chuyển động từ nồi trước ra nồi sau và có cấu tạo khá đơn giản. Và do đó, giống như sên, ta ít khi quan tâm và độ dây curoa (ngoài việc quan tâm độ bền dây) vì hiệu năng cảm nhận được là không rõ.

 

Hình minh họa bộ CVT:

 

 

Bỏ qua sợi dây. Ta sẽ đi sâu vào nghiên cứu cấu tạo và nguyên lí hoạt động của bộ nồi trước và nồi sau:

 

a/ Bộ nồi trước:

 

 

Nguyên lí hoạt động: Ta xem đoạn clip sau:

Trong clip trên, nồi trước màu hồng.

 

 

Khi động cơ quay, tùy theo tốc độ quay (rpm - rounds per minute - vòng/phút) mà lực li tâm sẽ làm 06 viên bi nồi lăn ra theo rãnh bi. Bi lăn ra sẽ ép má puli di chuyển ra/vào theo trục (ta hay gọi là ắc). Tùy theo vị trí của má puli mà dây sẽ bị ép vào trong hay chạy ra ngoài. Dây càng nằm bên trong thì tỉ số truyền càng lớn (tỉ số truyền bằng sau/trước) dẫn đến lực kéo mạnh nhưng tốc độ quay thấp. Dây càng ra ngoài thì tỉ số truyền càng nhỏ dẫn đến lực kéo yếu dần nhưng tốc độ quay tăng.

 

Độ nồi trước:

 

 

Nhìn vào hình trên ta sẽ thấy có 03 món mà ta cần quan tâm ở nồi trước.

 

Số 1: Nhựa đệm

 

Đây là 3 miếng nhựa đệm giảm chấn của nắp chụp giữ bi nồi trước. Sau một thời gian sử dụng thì 03 miếng nhựa này bị mòn dẫn đến bị lỏng và sẽ dao động trong quá trình nồi quay. Dao động này dẫn đến tiếng kêu lóc cóc ở nồi trước. Để xử lí tình trạng này ta có 02 cách: hoặc là thay 03 miếng nhựa khác (cách này tùy theo xe mà thực hiện dễ hay khó vì không hiểu sau các head xe ở Việt Nam lại rất ít bán các miếng này nên đại đa số các dòng xe tay ga là không có hàng) hoặc là ta chêm lại cho chặt (Thiên Nhẫn luôn luôn áp dụng cách chêm này). Có vài tiệm sửa xe làm ẩu, thay vì chêm miếng nhựa cho khách (vì bản thân miếng nhựa bị mòn) thì họ lại lười không chêm (chêm mất thời gian hơn) mà họ dùng kềm bóp nắp chụp cho móp để ôm sát vào miếng nhựa đã mòn đó. Cách này rất nguy hiểm vì với miếng nhựa mòn hiện tại thì cách này giải quyết được tình trạng lỏng. Nhưng sau này, khi bạn mua được miếng nhựa mới để thay thì lúc đó vấn đề phát sinh là không thể nào nhét miếng nhựa mới vào cái nắp củ đã bị bóp méo. Bạn sẽ làm sao? Thay nắp chụp mới (khó mua hơn cả miếng nhựa) hay mài cái nắp lại!!?? Cả 2 cách đều không đảm bảo! Do đó, chêm miếng nhựa khi bị lỏng và không động chạm gì tới cái nắp chụp xem ra là cách hoàn hảo trong trường hợp này.

 

Số 2: Bi nồi (nặng - nhẹ):

 

Bi nồi đóng vai trò lăn ra lăn vào để đẩy puli chạy ra vào khi động cơ quay. Đây là món đầu tiên ta có thể can thiệp (độ) trong bộ nồi xe tay ga. Vì hoạt động theo nguyên tắc lực li tâm nên bi nồi nặng sẽ có quán tính lớn - quăng ra chậm nhưng quăng xa, sát vách puli và ngược lại, bi nồi nhẹ có quán tính nhỏ quăng ra nhanh nhưng quăng gần hơn vì lực li tâm yếu hơn. Hay nói cách khác, bi nồi nhẹ đề pa nhanh hơn nhưng hậu yếu và ngược lại bi nồi nặng đề pa chậm hơn nhưng hậu rút.

 

 

 

Từ đặc điểm này, tùy theo nhu cầu đề hay hậu mà ta chọn bi nặng hay nhẹ. Vậy có cách nào vừa đề vừa hậu không? Câu trả lời là có! Đó là ta dùng 02 bộ bi nặng nhẹ lắp xen kẽ. Ta sẽ lắp 03 bi nặng xem kẽ 03 bi nhẹ. Khi động cơ quay, 03 bi nhẹ sẽ văng trước lấy nước đề, sau đó 03 bi nặng sẽ quăng sau lấy nước hậu.

 

Có 1 cách độ nữa là khoét rãnh bi trên puli. Cách này khuyến cáo không nên dùng vì sẽ làm mỏng puli và sai góc li tâm dẫn đến không đảm bảo an toàn.

 

Số 3: Ắc (ngắn - dài)

 

Xem hình và clip bên trên các bạn sẽ thấy được puli chạy ra vào theo chiều dài của ắc. Và do đó ắc là món thứ 2 có thể độ được. Nhưng dù ắc dài hay ngắn thì max khoảng chạy của puli là sát nắp ngoài. Điều đó có nghĩa là maxspeed ko đổi dù ắc ngắn hay dài. Chỉ có đề pa là khác.

 

- Ắc ngắn hơn zin: Ắc ngắn hơn thì ở trạng thái nghỉ puli đã đi đc 1 khoảng (so với ắc zin) và do đó dây cũng ra đc trước 1 khoảng. Mà như ban đầu ta đã nói, dây càng ra lực kéo càng yếu tốc độ quay càng cao. Tức ắc ngắn mất nước đề, hậu thì không đổi. Vậy ắc ngắn để làm gì? Ắc ngắn dùng để tiết kiệm xăng. Tại sao lại được vậy? Ta xét ví dụ:

 

Giả sử với ắc zin. tốc độ vòng quay và vị trí puli tương ứng là:

 

+ Tốc độ quay 0 - 1.000 rpm (tay ga đang ở mức 1): vị trí puli là sát trong cùng tức 0 (chưa đề pa)

+ Tốc độ từ 1.000 - 2.000 rpm( tay ga mức 2): vị trí puli là 1

+ Tốc độ 2.000 - 3.000 rpm(tay ga mức 3): vị trí puli là 2

 

Với ắc độ ngắn:

 

+ Tốc độ quay 0 - 1.000 rpm (tay ga mức 1) : vị trí puli đã là 1

+ Tốc độ quay 1.000 - 2.000 rpm (tay ga mức 2): vị trí là 2

 

Có nghĩa là với ắc zin, để đạt 40km/h ta cần vòng tua là 2.000 rpm (tay ga mức 2) tức vị trí 1. Với ắc ngắn, để đạt 40km/h ta chỉ cần vòng tua 1.000 rpm và do đó tay ga nhỏ hơn (tay ga mức 1). Dẫn đến tiết kiệm xăng hơn vì với cùng 1 tốc độ ta đi ga nhỏ hơn. Tuy nhiên, có một vấn đề đó là lực máy. Nếu máy mạnh, đề pa ở mức 1 xe còn có thể chạy được (so sánh ngang thì na ná đề pa bằng số 2, số 3 ở xe số). Nếu máy yếu, có thể xe ko đề pa nổi. Do đó việc hạ ắc và hạ bao nhiêu tùy thuộc vào tính toán của bạn.

 

- Ắc dài hơn: Ngược lại với ắc ngắn.

 

Lời khuyên là không nên độ ắc vì chỉ đc mỗi tăng giảm xăng nhưng nếu tính toán ko kĩ sẽ rất hại máy.

 

 

b/ Nồi sau:

 

 

 

 

Cấu tạo nồi sau khá phức tạp vì có rất nhiều chi tiết. Tuy nhiên ta chỉ sẽ quan tâm các số: 4, 5, 6, 7 mà thôi vì chỉ mấy món đó độ đc.

 

Nguyên lí hoạt động của nồi sau:

 

Khi nồi sau quay (nhờ nồi trước truyền sang). Lực li tâm làm 3 bố 3 càng thắng lực kéo lò xo và bung ra bắt dính vào chuông làm chuông quay theo. Chuông nối với trục bánh xe nên chuông quay kéo bánh xe quay.

 

Độ nồi sau:

 

Nồi sau màu xanh dương.

 

Ta thấy rằng tốc độ quay của nồi sau thay đổi dựa vào vị trí của dây (thay đổi tỉ số truyền). Dây chạy ra chạy vào (má puli sau chạy ra chạy vào) nhờ lò xo số 4.

 

Số 4: Lò xo nồi (cứng - mềm)

 

Lò xo cứng hơn sẽ ép dây sát ngoài hơn và sát puli hơn, giảm thiểu trượt dây và do đó tăng nước đề. Nhưng nếu quá cứng lực ép sẽ quá lớn làm dây ko vào sâu trong được dẫn đến mất hậu.

 

 

 

Số 5: Chuông nồi (nặng - nhẹ - chất liệu cấu tạo)

 

Chuông nồi là phần mà bố nồi bắt vào và kéo quay theo. Chuông gắn liền trục bánh nên chuông quay thì bánh xe quay.

 

Chuông nặng thì quán tính lớn, khi bố bắt vào, do quán tính nên mất 1 khoảng trễ (giảm đề pa). Tuy nhiên, cũng do quán tính. Chuông nặng thì trớn nhiều dẫn đến xe còn trớn đi xa hơn tính từ lúc đã giảm ga và tăng nước hậu.

 

Chất liệu làm chuông: Chất liệu làm chuông quyết định xem bề mặt trong của chuông nơi bố bắt vào có trơn hay không? Bám có tốt hay không và tốc độ tản nhiệt của chuông. Chuông nóng sẽ làm chai bố dẫn đến bố bắt kém.

 

Số 6: Bố nồi sau (chất liệu làm bố)

 

Chất liệu làm bố ảnh hưởng đến độ bám, tuổi thọ và tính chịu nhiệt của bố. Bố chịu nhiệt kém sẽ mau chai bố. Bố chai thì độ bám không đảm bảo nữa.

 

Số 7: Lò xo nồi (cứng - mềm)

 

Lò xo mềm thì lực kéo yếu, bố sẽ mau bung ra hơn so với lò xo cứng, và do đó đề pa sẽ nhanh hơn. Lò xo cứng thì ngược lại. Nhưng nếu lò xo quá mềm thì ở vòng tua máy quá thấp bố đã bung ra bắt chuông rồi. Lúc này hệ truyền động đã được khóa nhưng lực máy còn yếu sẽ dẫn đến tình trạng xe đề pa không nổi mà bị giật giật khựng khựng

 

Mở rộng: Tìm hiểu bi tam giác và bộ nồi độ Dr.Pulley (do Thiên Nhẫn phân phối)

 

1. Bi tam giác Dr.Pully:

 

 

Khác với bi tròn truyền thống. Thay vì lăn li tâm ra, bi tam giác trượt ra đồng thời đỉnh bi sẽ lẩy lên đẩy ép puli chạy ra. Chính vì cơ chế này nên bi tam giác mang lại hiệu quả đề pa nhanh hơn bi tròn có cùng trọng lượng.

 

2. Bộ nồi độ Dr.Pulley:

 

 

Bộ nồi độ Dr.Pulley có cấu tạo và nguyên lí hoạt động gần giống nồi zin nhưng có cải tiến một tí.

 

a/ Chuông:

 

Chuông có chất lượng thép tốt hơn, nhiều rãnh giải nhiệt hơn chuông zin. Trọng lượng thì gần như bằng zin.

 

Điểm khác của nồi Dr.Pulley là có 2 bộ lò xo (thay vì zin là 1 bộ). Đó là lò xo bố 3 càng (giống nồi zin) và lò xo đế (nồi zin không có).

 

b/ Lò xo bố 3 càng - Clutch springs:

 

 

Nồi Dr.Pulley (bên trái) có 3 lò xo bố 3 càng giống nồi zin (bên phải). Nguyên lí hoạt động cũng giống nhau là lò xo nhẹ thì bung nhanh và ngược lại.

 

c/ Lò xo đế hay còn gọi là xo gối - Pillow springs:

 

Nồi Dr.Pulley có 3 lò xo đế (hình trên) trong khi nồi zin không có (hình dưới).

 

Dựa vào clip các bạn sẽ thấy. 3 lò xo trong (tức lò xo bố 3 càng) quyết định thời điểm bố 3 càng bung ra bắt vào chuông (bắt ban đầu). 3 lò xo ngoài quyết định thời điểm đế lẫy chốt ngang để ép ra khóa chặt bố vào mặt chuông chống hiện tượng trượt bố sau khi nồi đã bắt dính chuông (bắt hoàn toàn). Cả 02 bộ lò xo này có thể tùy chỉnh theo ý thích để tăng nước đề (lò xo bố 3 càng) và tăng cường thêm nước hậu (lò xo đế). Chính vì thế nồi Dr.Pulley cải thiện được cả đề lẫn hậu của xe.

 

Bài viết trên là một vài thông tin về hệ thống truyền động trên xe gắn máy. Hiển nhiên là với vốn kiến thức hạn hẹp, Thiên Nhẫn không tránh khỏi sai sót. Kính mong các bạn bổ sung thêm cho bài viết ngày càng hoàn chỉnh.

 

Thân ái!

Tạp chí xe Máy

Quảng cáo được tài trợ

Trung tâm sơn, sửa xe Sài Gòn

Đ/c: 318 Hoàng Văn Thụ, P.4, Q.Tân Bình, Tp. Hồ Chí Minh

Điện thoại: 0983 801 891 - 0903 801 891

Email:  This e-mail address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it This e-mail address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it

Chúng tôi chuyên thực hiện: sơn, sửa, tân trang, thay mới phụ tùng các loại xe số, tay ga Honda, Yamaha, Suzuki, SYM,...

 

Liên hệ Quảng cáo - 0938 91 97 39

 
Phụ tùng xe máy

Công ty chuyên cung cấp nhiều loại phụ tùng cho các loại xe máy.

Read more...
 


  • Kymco
  • Zongshen
  • BeU Honda
  • Honda
  • Suzuki yamaha